(024) 3553 5355
Điện thoại
irdop.quantri@gmail.com
Email to irdop.quantri@gmail.com

Đăng nhập - Tài khoản

Nghiên cứu xây dựng tiêu chuẩn vị thuốc trần bì làm nguyên liệu sản xuất thuốc hạ lipid máu

Keyword: Trần bì, Pericarpium Citri reticulatae perenne, Hạ Mỡ NK, hesperidin, Lipid.

Summary:  Pericarpium Citri reticulatae perenne is a dried ripe peach, dried for curing mucus, abdominal cramps, poor appetite, vomiting, diarrhea. Capsule is one of the drugs used in the research study “Prevention and Evaluation of Experimental Lipid-Lowering Blood Capsules from Nitric Oxide Supplements”, Institute For Research And Development Of Organic Product (IRDOP) has developed quality standards of this drug, ensuring the quality of drugs and other products that use the epidermis when produced on an industrial scale to commercialize products.

1. TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan về bài thuốc nam “Hạ mỡ máu NK” [6]

Thành phần bài thuốc nam “Hạ mỡ máu NK”

Bán hạ nam chế 08g Tỳ giải nam 12g
Trần bì 06g Rễ cỏ tranh 12g
Thảo quyết minh 12g Ngưu tất 12g
Hòe hoa 12g Hà diệp 12g
Hạ khô thảo 12g

Công dụng: Kiện tỳ, táo thấp, hóa đàm

Chủ trị:

Thể đàm thấp: Người nặng nề, béo, thích nằm, toàn thân mệt mỏi, mắt vàng, buồn nôn, bụng trướng, chậm tiêu, tứ chi rã rời, lưỡi bệu, có vết răng hằn, rêu lưỡi trắng dầy, mạch trầm hoạt. Tương ứng với YHHĐ là hội chứng rối loạn lipid máu.

Năm 2015, Trương Quốc Chính nghiên cứu tác dụng của bài thuốc “Hạ mỡ máu NK” trong thời gian 60 ngày trên 36 bệnh nhân rối loạn lipid máu nguyên phát thể đàm thấp. Kết quả cho thấy cholesterol giảm 16,55%, triglycerid giảm 32,17%, LDL-C giảm 15,26% và HDL-C tăng 9,09% [4].

1.2.  Tổng quan về vị thuốc Trần bì

Tên khoa học: Pericarpium Citri reticulatae perenne

Bộ phận dùng: Vỏ quả chín đã phơi hoặc sấy khô và để lâu ngày của cây Quýt (Citrus reticulataBlanco), họ Cam (Rutaceae) [3].

Thành phần hóa học: Chứa tinh dầu 3,8%, nước và thành phần bốc hơi được 61,25%, hesperidin, flavonoid, vitamin A, B và 0,8% tro. Theo tài liệu Ấn Độ, vỏ quýt có chứa tinh dầu với thành phần chủ yếu là d-limonen 91% và các terpen, caren linalol, anthranilat methyl lượng nhỏ hơn. Theo Trung dược đại từ điển, thành phần tinh dầu quýt gồm α-pinen, β-pinen, camphen, myrcen, 3-caren, α-phelladren, β-phellandren, α-terpinen, β-terpinen, limonen và hydrocarbon thơm (Trung dược đại từ điển II.554, III 1573, 1579, 1581, 1582).

Matsulara, Yoshihara, Swabe Akiyoshi đã phân tích trong vỏ quýt thấy có 27 hợp chất gồm các nhóm chất phenyl prophanoid glucosid, terpenoid glucosid, adenosin, trong đó chất citrusin A có tác dụng hạ huyết áp (CA.108,1988, 124458 v) [3].

Tác dụng dược lý:

Tác dụng đối với chứng đàm thấp: hành khí, tiêu đàm

Tinh dầu trong trần bì có tác dụng kích thích vị tràng, tăng phân tiết dịch tiêu hóa, bài trừ khí tích trong ruột, còn có tác dụng trừ đàm. Chất hesperidin trong trần bì có tác dụng trừ đàm và kéo dài tác dụng của corticoid, còn duy trì tính thẩm thấu của mạch máu.

Tác dụng hạ cholesterol máu:

Trên chuột cống trắng gây tăng cholesterol máu bằng cách trộn vào thức ăn hàng ngày cholesterol 30 mg/kg và 6-methylthiouracil 90 mg/kg, quercetin tiêm dưới da với liều 10 mg/kg có tác dụng hạ cholesterol máu, đồng thời có tác dụng điều trị và phòng ngừa bệnh xơ vữa động mạch thực nghiệm.

Tác dụng đối với tim mạch:

Nước sắc trần bì trên tim ếch cô lập và tim ếch tại chỗ đều có tác dụng tăng cường sức co bóp cơ tim, tăng lượng máu do tim đẩy ra, ảnh hưởng không lớn đến nhịp tim. Với liều cao, nước sắc ức chế sự co bóp cơ tim và làm giãn mạch vành, trên tim thỏ cô lập. Nước sắc trần bì thí nghiệm trên chó tiêm tĩnh mạch có tác dụng gây co bóp mạch máu thận, giảm lượng nước tiểu. Trên chó và thỏ lai bình thường có hiện tượng hạ huyết áp trong thời gian ngắn, tác dụng giống như adrenalin.

Tác dụng đối với cơ trơn:

Nước sắc trần bì trên ruột cô lập của thỏ và chuột nhắt trắng có tác dụng ức chế sự co bóp ruột, methylhesperidin trên ruột cô lập và khí quản chuột lang. Đối với động mạch chủ chuột cống trắng có tác dụng ức chế co bóp, nhưng tương đối yếu, chỉ bằng 1/100 tác dụng của papaverin.

Tác dụng chống viêm, chống loét, lợi mật:

Hesperidin không có tác dụng làm giảm phù chân chuột do formaldehyd còn ciscoumarin có trong cam quýt có tác dụng chống viêm. Methylhesperidin có tác dụng ức chế loét dạ dày do thắt môn vị trên chuột cống trắng; tiêm xoang bụng cho chuột cống trắng có tác dụng lợi mật rõ rệt.

Các tác dụng khác:

Trên chuột cống trắng được nuôi bằng chế độ ăn gây xơ vữa động mạch và hình thành huyết khối, hesperidin có tác dụng kéo dài thời gian sống của động vật thí nghiệm. Trong thí nghiệm gây đông lạnh tai thỏ bằng cách phun chlorethan, hesperidin làm giảm được các triệu chứng co mạch. Trên chuột cống trắng gây tắc nghẽn mạch huyết khối thực nghiệm, các flavonoid của quýt như nobiletin, tangeretin có tác dụng ức chế hoạt động men thrombogen, nhưng không ảnh hưởng đến thời gian đông máu. Nobiletin có tác dụng ức chế tốc độ lắng máu của hồng cầu người với tỷ lệ ức chế là 78,8%. Nó còn có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu và ức chế hoạt động men phosphodiesterase.

Limonen có tác dụng ức chế thần kinh trung ương, thí nghiệm trên chuột nhắt trắng và chuột cống trắng bằng đường uống làm giảm hoạt động tự nhiên của chuột, hạ thân nhiệt, kéo dài tác dụng của thuốc gây mê. Ngoài ra, limonen còn có tác dụng giải co thắt, chống viêm, chống dị ứng [3].

Tính vị quy kinh: Vị đắng, cay;  tính ôn; quy vào kinh phế, tỳ [3].

Công năng chủ trị:

Công năng: Lý khí kiện tỳ, hóa đờm táo thấp.

Chủ trị: bụng đau, đầy trướng, kém ăn, nôn mửa, ỉa lỏng, ho đờm nhiều.

Liều dùng: Ngày dùng 4-8g. Kiêng kỵ: không thấp, không trệ, không đàm thì ít dùng [3]

Ứng dụng lâm sàng:

Kích thích tiêu hóa, dùng khi bị nôn mửa do lạnh, ỉa chảy do tỳ hư, ho do đàm thấp gây ra. Tinh dầu trần bì kích thích vị tràng tiết dịch tiêu hóa, trừ khí tích trong ruột, trừ đờm, chống viêm, giãn phế quản, cắt cơn hen, duy trì tính thẩm thấu của mạch máu, giảm tính xơ cứng của mạch máu. Sản phẩm chiết cồn từ trần bì làm giảm lượng chất béo trung tính, giảm cholesterol toàn phần và LDL-C trên động vật thực nghiệm ăn chế độ có cholesterol cao, nhưng không làm thay đổi hoạt độ enzym AST và ALT trong máu [8;10].

Trong y học cổ truyền, trần bì là một vị thuốc thông dụng đối với nam giới, nên có câu “nam bất ngoại trần bì, nữ bất ly hương phụ” nghĩa là chữa bệnh cho đàn ông không thể thiếu trần bì, cho phụ nữ không thể thiếu hương phụ. Theo kinh nghiệm dân gian, trần bì chữa ăn không tiêu, đau bụng, nôn mửa, ho tức ngực, nhiều đờm. Liều dùng hàng ngày 4-12g dưới dạng thuốc sắc hay thuốc bột. Có thể dùng phối hợp với các vị thuốc khác.

Một số bài thuốc có trần bì [3]

Chữa đau bụng, nôn mửa, ợ hơi, tiêu hóa kém: Trần bì 8g, hoắc hương 8g, gừng sống 3 lát. Sắc với 200 ml nước còn 50 ml uống trong ngày (Nam dược thần hiệu).

Chữa ho mất tiếng: Trần bì 12g, sắc với 200 ml nước, còn 50 ml, thêm đường đủ ngọt, uống dần trong ngày.

Chữa ho đờm nhiều, đờm đặc, tức ngực: Trần bì, bán hạ chế mỗi vị 6g, phục linh 12g, cam thảo 3g. Sắc nước uống.

Chữa tinh hoàn sưng đau: Trần bì, hạt vải (thái mỏng phơi khô sao vàng), đại hồi. Liều lượng mỗi thứ bằng nhau, tán nhỏ, rây bột mịn. Ngày uống 4-8g, chia làm 2 lần, chiêu với rượu.

2.  PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CHẤT LƯỢNG DƯỢC LIỆU TRẦN BÌ

Trần bì được xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dựa trên các chỉ tiêu cơ bản trong chuyên luận Trần bì của Dược điển Việt Nam IV [9].

Đối tượng nguyên cứu: dược liệu trần bì thu mua tại Lãn Ông, Hà Nội

2.1. Về mô tả, vi phẫu và soi bột

2.1.1. Mô tả

Vỏ cuốn lại hoặc quăn, dày 0.1 cm đến 0.15 cm, có mảnh còn vết tích của cuống quả, mặt ngoài màu vàng nâu hay nâu nhạt, có nhiều chấm màu sẫm hơn và lõm xuống (túi tiết) .

2.2.2. Vi phẫu:

Vỏ quả ngoài gồm một hàng tế bào nhỏ hình vuông, phía ngoài có lớp cutin và lỗ khí

2.2.3. Soi bột:

Tế bào vỏ quả ngoài hình nhiều cạnh, màu vàng nhạt thành hơi dày…

2.2. Độ ẩm, tro, tạp chất

2.2.1. Độ ẩm

Thực hiện theo phương pháp “Xác định mất khối lượng do làm khô” – Phụ lục 9.6 trong DĐVN IV.

Mất khối lượng do làm khô là sự giảm khối lượng của mẫu thử biểu thị bằng phần trăm (kl/kl) khi được làm khô trong điều kiện xác định ở mỗi chuyên luận. Phương pháp này dùng để xác định hàm lượng nước, một phần hoặc toàn bộ lượng nước kết tinh và lượng chất dễ bay hơi khác trong mẫu thử.

Việc xác định mất khối lượng do làm khô không được làm thay đổi tính chất lý hoá cơ bản của mẫu thử, vì vậy mỗi chuyên luận riêng sẽ có quy định cách làm khô theo một trong các phương pháp sau đây:

a) Trong bình hút ẩm. Tiến hành làm khô trong bình hút ẩm với những chất hút nước như phosphor pentoxyd, silica gel v.v…

b) Trong chân không. Tiến hành làm khô ở điều kiện áp suất từ 1,5 đến 2,5 kPa có mặt chất hút ẩm phosphor pentoxyd và ở nhiệt độ phòng.

c) Trong chân không ở điều kiện nhiệt độ xác định. Tiến hành làm khô ở điều kiện áp suất từ 1,5 đến 2,5 kPa có mặt chất hút ẩm phosphor pentoxyd và trong điều kiện nhiệt độ quy định trong chuyên luận riêng.

d) Trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ xác định. Tiến hành làm khô trong tủ sấy ở điều kiện nhiệt độ quy định trong chuyên luận riêng.

e) Trong chân không hoàn toàn. Tiến hành làm khô trong điều kiện áp suất không quá 0,1 kPa có mặt chất hút ẩm phosphor pentoxyd và ở điều kiện nhiệt độ qui định trong chuyên luận riêng.

Cách tiến hành

Dùng dụng cụ sấy thuỷ tinh rộng miệng đáy bằng có nắp mài làm bì đựng mẫu thử; làm khô bì trong thời gian 30 phút theo phương pháp và điều kiện quy định trong chuyên luận rồi cân để xác định khối lượng bì. Cân ngay vào bì này một lượng chính xác mẫu thử bằng khối lượng quy định trong chuyên luận với sai số ± 10%. Nếu không có chỉ dẫn gì đặc biệt thì lượng mẫu thử được dàn mỏng thành lớp có độ dày không quá 5 mm. Nếu mẫu thử có kích thước lớn thì phải nghiền nhanh tới kích thước dưới 2 mm trước khi cân. Tiến hành làm khô trong điều kiện quy định của chuyên luận. Nếu dùng phương pháp sấy thì nhiệt độ cho phép chỉ chênh lệch  ± 2°C  so với nhiệt độ quy định. Sau khi sấy phải làm nguội tới nhiệt độ phòng cân trong bình hút ẩm có silica gel rồi cân ngay.  Nếu chuyên luận không quy định thời gian làm khô có nghĩa là phải làm khô đến khối lượng không đổi, tức là sự chênh lệch khối lượng sau khi sấy thêm 1 giờ trong tủ sấy hoặc 6 giờ trong bình hút ẩm so với lần sấy trước đó không quá 0,5 mg.

Nếu mẫu thử bị chảy ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ sấy quy định thì trước khi đưa lên nhiệt độ đó, cần duy trì từ 1 đến 2 giờ ở nhiệt độ thấp hơn nhiệt độ nóng chảy của mẫu thử từ 5°C đến 10°C .

Nếu mẫu thử ở dạng viên nang hoặc viên bao thì phải bỏ vỏ (lấy không ít hơn 4 viên) và nghiền nhanh tới kích thước dưới 2 mm rồi lấy lượng bột viên như chỉ dẫn trong chuyên luận riêng.

Nếu mẫu thử là dược liệu, khi chuyên luận riêng không có chỉ dẫn gì đặc biệt thì tiến hành sấy trong tủ sấy ở áp suất thường. Dược liệu phải được làm thành mảnh nhỏ đường kính không quá 3 mm; lượng đem thử từ 2 g đến 5 g; chiều dày lớp mẫu thử đem sấy là 5 mm và không quá 10 mm đối với dược liệu có cấu tạo xốp. Nhiệt độ và thời gian sấy theo yêu cầu của chuyên luận riêng.

Đối với dược liệu trần bì: Áp dụng phương pháp mất khối lượng do làm khô với 3 g mẫu sấy ở 105°C trong 5 giờ. Hàm ẩm yêu cầu không được quá 13%.

2.2.2. Tro toàn phần

Thực hiện theo phương pháp 1 trong phụ lục 9.8 – DĐVN IV.

Phương pháp 1

Cho 2 – 3 g bột đem thử vào một chén sứ hoặc chén platin đã nung và cân bì. Nung ở nhiệt độ không quá 450°C tới khi không còn carbon, làm nguội rồi cân. Bằng cách này mà tro chưa loại được hết carbon thì dùng một ít nước nóng cho vào khối chất đã than hoá, dùng đũa thuỷ tinh khuấy đều, lọc qua giấy lọc không tro. Rửa đũa thuỷ tinh và giấy lọc, tập trung nước rửa vào dịch lọc. Cho giấy lọc và cắn vào chén nung rồi nung đến khi thu được tro màu trắng hoặc gần như trắng. Hợp  dịch lọc vào cắn trong chén nung, đem bốc hơi đến khô rồi nung ở nhiệt độ không quá 450°C đến khối lượng không đổi. Tính tỷ lệ phần trăm của tro toàn phần theo dược liệu đã làm khô trong không khí.

      Yêu cầu đối với dược liệu trần bì: Hàm lượng tro không được quá 5%.

2.2.3. Tro không tan trong acid hydrocloric

Thực hiện theo phương pháp 1 trong phụ lục 9.7 – DĐVN IV.

Phương pháp 1

Cho 25 ml acid hydrocloric 2 M (TT) vào tro toàn phần, đun sôi 5 phút, lọc để tập trung những chất không tan vào một phễu thuỷ tinh xốp đã cân bì, hoặc vào một giấy lọc không tro, rửa bằng nước nóng rồi đem nung ở 500oC đến khối lượng không đổi. Tính tỷ lệ phần trăm của tro không tan trong acid so với dược liệu đã làm khô trong không khí.

Yêu cầu: Hàm lượng tro không được quá 1%

2.2.4. Tạp chất 

Thực hiện theo phụ lục 12.11 trong DĐVN  IV.

Tạp chất lẫn trong dược liệu bao gồm tất cả các chất ngoài quy định của dược liệu đó như: Đất, đá, rơm rạ, cây cỏ khác, các bộ phận khác của cây không quy định làm dược liệu, xác côn trùng…

Cách xác định

Cân một lượng mẫu vừa đủ đã được chỉ dẫn trong chuyên luận, dàn mỏng trên tờ giấy, quan sát bằng mắt thường hoặc kính lúp, khi cần có thể dùng rây để phân tách tạp chất và dược liệu.

Cân phần tạp chất và tính phần trăm như sau:

Trong đó:

a: Khối lượng tạp chất tính bằng gam

p: Khối lượng mẫu thử tính bằng gam.

Ghi chú:

1) Trong một số trường hợp nếu tạp chất rất giống với dược liệu phải làm các phản ứng định tính hoá học, phương pháp vật lý hoặc dùng kính hiển vi để phát hiện tạp chất. Tỷ lệ tạp chất được tính bao gồm cả tạp chất được phát hiện bằng phương pháp này.

2) Lượng mẫu lấy thử nếu chuyên luận riêng không quy định thì lấy như sau:

Hạt và quả rất nhỏ (như hạt mã đề): 10 g.

Hạt và quả nhỏ: 20 g.

Dược liệu thái thành lát: 50 g.

Đối với dược liệu trần bì: Tiến hành xác định tạp chất với khối lượng dược liệu là 50g. Tỷ lệ tạp chất không quá 1%.

2.3. Định tính và định lượng một số hoạt chất trong dược liệu trần bì
2.3.1. Định tính bằng phương pháp sắc ký lớp mỏng (Phụ lục 5.4 – DĐVN IV) [9]

Phương pháp sắc ký lớp mỏng được dùng để định tính, thử tinh khiết và đôi khi để bán định lượng hoặc định lượng hoạt chất thuốc.

Sắc ký lớp mỏng là một kỹ thuật tách các chất được tiến hành khi cho pha động di chuyển qua pha tĩnh trên đó đã chấm hỗn hợp các chất cần tách. Pha tĩnh là chất hấp phụ được chọn phù hợp theo từng yêu cầu phân tích, được trải thành lớp mỏng đồng nhất và được cố định trên các phiến kính hoặc phiến kim loại. Pha động là một hệ dung môi đơn hoặc đa thành phần được trộn với nhau theo tỷ lệ quy định trong từng chuyên luận. Trong quá trình di chuyển qua lớp hấp phụ, các cấu tử trong hỗn hợp mẫu thử được di chuyển trên lớp mỏng, theo hướng pha động, với những tốc độ khác nhau. Kết quả thu được là một sắc ký đồ trên lớp mỏng. Cơ chế của sự tách có thể là cơ chế hấp phụ, phân bố, trao đổi ion, sàng lọc phân tử hay sự phối hợp đồng thời của nhiều cơ chế tùy thuộc vào tính chất của chất làm pha tĩnh và dung môi làm pha động.

Đại lượng đặc trưng cho mức độ di chuyển của chất phân tích là hệ số di chuyển Rf được tính bằng tỷ lệ giữa khoảng dịch chuyển của chất thử và khoảng dịch chuyển của dung môi:

Trong đó:

a là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu thử, tính bằng cm.

b là khoảng cách từ điểm xuất phát đến mức dung môi đo trên cùng đường đi của vết, tính bằng cm.

Rf: Chỉ có giá trị từ 0 đến l.

Ngoài ra, khi sắc ký liên tục không xác định được tuyến dung môi, vị trí vết chất thử trên sắc đồ có thể xác định bằng hệ số dịch chuyển tương đối Rr. Hệ số dịch chuyển tương đối Rr được xác định bằng tỷ số giữa khoảng cách dịch chuyển của vết chất thử và khoảng cách dịch chuyển của vết chất chuẩn đối chiếu được sắc ký trong cùng điều kiện và trên cùng bản mỏng với mẫu thử:

Trong đó:

a là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết mẫu thử, tính bằng cm.

c là khoảng cách từ điểm xuất phát đến tâm của vết chất chuẩn, tính bằng cm.

Giá trị Rr có thể lớn hay nhỏ hơn l.

Tiến hành cụ thể đối với dược liệu trần bì:

Bản mỏng Silica gel 60 F254

Dung môi khai triển 1 : ethyl axetat – methanol – nước (100 : 17 :13)

Dung môi khai triển 2 : Toluen – ethyl axetat – axit formic- nước (20 :10:1:1)

Dung dịch thử :  Lấy 0.3 gam bột dược liệu, thêm 20 ml methanol, đun hôi lưu cách thủy 20 mịn, để nguội lọc, bốc hơi 5 ml dung dịch lọc đến khoảng 1 ml làm dung dịch chấm sắc kí

Dung dịch chất đối chiếu: Hòa tan hesperidin chuẩn trong methanol để được dung dịch có nồng độ 1 mg//ml

Dung dịch dược liệu đối chiếu: Nếu không có hesperidin lấy 0.3 gam bột trần bì mẫu chuẩn chiết như mô tả ở phần dung dịch thử

Cách tiến hành : chấm riêng biệt lên bản mỏng 2 ul mỗi dung dịch trên. Triển khai sắc kí với dung môi khai triển 1 đến khi dung môi đi được 3 cm , lấy bản mỏng ra để khô trong không khí. Tiêp tục triển khai với hệ dung môi 2 đến khi dung môi đi được 8 cm lấy bản mỏng ra để khô trong không khí. Phun dung dịch nhôm clorid 1 % (TT) Quan sát dưới ánh sáng tử ngoại ở bước sóng 366 nm

Trên sắc kí đồ của dung dịch thử phải có các vết có huỳnh quang cùng màu sắc và giá trị Rf với vết của hesperidin  trên sắc đồ của dung dịch đối chiếu hoặc phải có các vết cùng màu sắc và giá trị Rf với các vết trên sắc kí đồ của dung dịch dược liệu đối chiếu.

2.3.2. Định lượng:

Phương pháp sắc kí lỏng hiệu năng cao (HPLC)

Pha động: Methanol – axit axetic – nước (35 : 4 : 61)

Dung dịch thử : Cân chính xác khoảng 1 gam bột thô dược liệu cho vào túi giấy lọc, tiến hành chiết soxlet với 80 ml ether dầu hỏa  (60-90 độ C) (TT) trong 3h, loại bỏ dịch chiết ether dầu hỏa và lấy túi giấy lọc ra làm bay hơi hết dung môi trong bã dược liệu và túi giấy lọc, chuyển trở lại vào bình soxlet tiếp tục chiết với 80 ml methanol (TT) đến khi dịch chiết không màu, để nguội , chuyển dịch chiết vào bình 100 ml tráng rửa bình hứng bằng methanol (TT), gộp dịch rửa vào bình định mức, bổ sung methanol vừa đủ đến vạch trộn đều lọc qua màng lọc 0.45 um.

Dung dịch chuẩn : Hòa tan hesperidin chuẩn trong methanol (TT) để được dung dịch có nồng độ chính xác 0.4 mg/ ml

Điều kiện sắc kí:

Cột kích thước (250 x4.6 mm) được nhồi pha tĩnh C (5 μm)

Detector quang phổ tử ngoại đặt ở bước sóng 283 nm

thể tích tiêm 5 ul tốc độ dòng 1 ml/mim

Cách tiến hành:

Kiểm tra tính phù hợp hệ thống  : tiến hành sắc kí với dung dịch chuẩn, tính số đĩa lí thuyết qua cột. số đĩa lí thuyết của cột  không được nhỏ hơn 2000 tính theo pic của heperidin

Độ lệch chuẩn tương đối của diện tích pic hesperidin trong 6 lần lặp lại không được quá 2 %

Tiến hành sắc kí với dung dịch chuẩn, dung dịch thử. Tính hàm lượng hesperdin trên sắc kí dồ của dung dịch chuẩn, dung dịch thử và hàm lương c28h34o15 trong hesperidin chuẩn. Dược liệu phải chứa không ít hơn 3.5 % hesperidin (c28h34o15), tính theo  dược liệu khô kiệt.

3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Kết quả xây dựng tiêu chuẩn dược liệu trần bì được thể hiện tại bảng sau:

STT CHỈ TIÊU TIÊU CHUẨN THỬ Tiêu chuẩn dược liệu
1 Mô tả Đặc điểm dược liệu Đạt yêu cầu DĐVN IV
2 Vi phẫu Cắt ngang dược liệu Đạt yêu cầu DĐVN IV
3 Soi bột Bột dược liệu Đạt yêu cầu DĐVN IV
4 Định tính phương pháp hóa học Tinh dầu, hesperidin Đạt yêu cầu DĐVN IV
5 Định tính phương pháp SKLM Tinh dầu, hesperidin
6 Độ ẩm % H2O trong dược liệu ≤ 13%
7 Tro toàn phần Tro sau nung ≤5%
8 Tro không tan trong HCL Tro sau xử lý bằng HCl ≤1%
9 Tạp chất Các chất ngoài quy định của dược liêu ≤1%
10 Định lượng Hesperidin Hàm lượng ≥3%
11 Dư lượng thuốc bảo vệ thực vậta. Hàm lượng Abamectin

 

b. Hàm lượng Cypermethrin

Hàm lượng Abamectin

b. Hàm lượng Cypermethrin

Không có
12 Kim loại nặngHàm lượng Đồng

Hàm lượng Arseni

Hàm lượng Cadmi

 

Hàm lượng Chì

Hàm lượng Thủy ngân

Hàm lượng Đồng

Hàm lượng Arseni

Hàm lượng Cadmi

 

Hàm lượng Chì

Hàm lượng Thủy ngân

Không có
13 Dư lượng Nitrat Nitrat Không có

 

Nhận xét:

Dược liệu trần bì đạt các chỉ tiêu chất lượng theo tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam IV. Phù hợp để đưa vào bài thuốc “hạ mỡ máu HamoNK” cần có nguồn gốc và quy trình sơ chế đảm bảo ổn định để có thể tiến hành nghiên cứu chiết xuất ra cao định chuẩn góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm khi đưa sản xuất ở quy mô công nghiệp phục vụ thương mại hóa sản phẩm

4. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

4.1. Kết luận

Dược liệu tại phố Lãn Ông tại thời điểm mua:

Đạt tiêu chuẩn chất lượng trong các chuyên luận của Dược điển Việt Nam IV.

4.2. Kiến nghị

Nên xây dựng tiêu chuẩn cao định chuẩn khi sử dụng đưa vào sản xuất bài thuốc “hạ mỡ máu HamoNK” hoặc các sản phẩm khác để đảm bảo ổn định chất lượng sản phẩm khi sản xuất ở quy mô công nghiệp.

PHỤ LỤC

Các hình ảnh đánh giá chất lượng của dược liệu Trần bì

Hình P1: Dược liệu Trần bì khô

Hình P2: Hình ảnh soi bột Trần bì

Hình P3: Hình ảnh vi phẫu cùi Trần bì

Hình P4: Hình ảnh sau khi chạy sắc ký lớp mỏng của trần bì so sánh với dược liệu chuẩn

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Bệnh viện Bạch Mai (2010), “Rối loạn Lipid máu”. Bệnh nội khoa, NXB Y Học, tr. 220-225
  2. 翕维良高脂血症的中医药治疗。中医杂指志。Bộ Y tế (2010), “Phương pháp chế biến bảo đảm chất lượng đối với 85 vị thuốc đông y”.
  3. Viện Dược liêụ (2006), “Cây thuốc và động vật làm thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản khoa học và kỹ thuật Hà Nội.
  4. Phạm Quốc Bình – Trương Quốc Chính (2015) “ Đánh giá tác dụng của bài thuốc “Hạ mỡ NK” trên bệnh nhân rối loạn Lipid máu nguyên phát thể đàm thấp”- Luận văn thạc sỹ, Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam
  5. Phạm Quốc Bình – Hà Trang (2015) “Nghiên cứu tác dụng điều chỉnh rối loạn lipid máu của bài thuốc Hạ mỡ NK trên thực nghiệm” – Luận văn thạc sỹ, Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam.
  6. Trương Việt Bình – Nguyễn Xuân Việt “Nguyễn Kiều – 100 vị cơ bản tính thuốc ta”, Học viện y dược học cổ truyền Việt Nam.
  7. Hoàng Bảo Châu (1997): “Đàm ẩm”, Nội khoa Y học cổ truyền, Nhà xuất bản Y học, tr. 326 – 328.
  8. Võ Văn Chi (2013) “Từ điển cây thuốc Việt Nam”. Nhà xuất bản Y học, Tr .764-842.
  9. Dược điển Việt Nam IV (lần xuất bản thứ tư, năm 2009), Nhà xuất bản Y học, tr.681 – 938.
  10. Đỗ Tất Lợi (2005), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”. Nhà xuất bản Y học, Tr 44-1168.
  11. Tuệ Tĩnh (1999), “Đàm ẩm”, Tuệ Tĩnh toàn tập, NXBY học.

Bài viết liên quan

Liên hệ

176 Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, T.p Hà Nội
Điện thoại
(024)-3553-5355
Email
irdop.quantri@gmail.com

Dịch vụ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ, KIỂM NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học
TƯ VẤN, ĐÀO TẠO
Nghiên cứu khoa học

Tài Liệu

Bài báo quốc tế

Bài báo quốc tế

Báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học

Nghiên cứu khoa học

Bài báo quốc tế

Liên kết website

Bảo lưu mọi quyền. Quy định bảo mật. Điều khoản sử dụng