(024) 3553 5355
Điện thoại
irdop.quantri@gmail.com
Email to irdop.quantri@gmail.com

Đăng nhập - Tài khoản

Chiết xuất và phân lập chất chuẩn naringin từ vỏ quả bưởi (citrus maxima merr., burm.f) việt nam

The peels of the citrus fruits, especially grapefruit, which are rich in flavonoid glycosides, polyphenols and volatile oils. Several pharmacological properties have been attributed to various members of the citrus species, ranging from anticancer,  antimicrobial,  antifungal, antityphoid,  antioxidant,  antiinflammatory, antiulcer, hypolipidemic, hepatoprotective and antidiabetic,  among others. Naringin isolated from peels  citrus has metal chelating, antioxidant, and free radical scavenging properties. A reference standard of Naringin wasestablished with the purity of ≥ 95% for evaluation and check analysis. The chemical structure of naringin compounds has determined based on NMR, IR, MS spectra data compared with spectral data published in reference.

Keywords: Bưởi, Citrus maxima (Merr., Burm. f.),  naringin, chiết xuất bưởi

1.TỔNG QUAN

Bưởi có tên khoa học là: Citrus maxima (Merr., Burm. f.), thuộc họ Cam – Rutaceae.

Bưởi được trồng phổ biến ở Việt Nam. Theo tác giả Đỗ Tất Lợi, lá bưởi thường được dùng để xông chữa cảm cúm, nhức đầu; dịch ép bưởi làm thuốc chữa tiêu khát; vỏ quả bưởi chữa ăn uống không tiêu, đau bụng; bột than hạt bưởi có thể dùng chữa trốc đầu ở trẻ em.

Xét về thành phần hóa học, trong vỏ quả bưởi, hoa và lá bưởi có chứa nhiều loại tinh dầu (ditecpen, linalola và xitrala). Ngoài ra vỏ quả ngoài rất giàu chất narin-gosid, do đó có vị đắng, trong vỏ có tinh dầu, tỷ lệ 0,80-0,84%; quả chứa 0,5% tinh dầu; trong lá cũng có tinh dầu. Tinh dầu vỏ bưởi chứa d-limonen, a- pinen, linalol, geraniol, citral; còn có các alcol, pectin, acid citric. Dịch quả chín có nhiều chất bổ dưỡng: nước 89%, glucid 9%, protid 0,6%, lipid 0,1% và các khoáng Ca 20mg%, P 20mg%, K 190mg%, Mg 12mg%, S 7mg% và Na, Cl, Fe, Cu, Mn… Có các vitamin (tính theo mg%) C 40, B 0,07, B2 0,05 PP 0,3 và tiền sinh tố A 0,1. 100 mg

Naringin  là một flavanone glycoside, tan trong alcohol, acetone, ethyl acetate, pyridine, acid acetic, nhưng lại không tan trong chloroform, ether, benzene. Với nước, naringin tan tốt nhất ở nhiệt độ 75°C. Tinh thể naringin ở dạng hình kim, màu trắng ngà. Khi sấy khô ở 110°C, nhiệt độ nóng chảy của nó là 171°C, nhưng khi kết tinh trong nước tinh thể naringin tồn tại dạng hexahydrate khi đó nhiệt độ nóng chảy là 83°C. Naringin được tìm thấy nhiều trong lõi với hàm lượng khoảng từ 50 – 60%, 5 – 10% trong vỏ ngoài, 1 – 3% trong dịch bưởi.

Naringin có nhiều tác dụng sinh học rất mạnh như kháng oxy hóa, giảm lipid máu (Seon Min Jeon, 2001), kháng ung thư và ức chế chọn lọc các enzym chuyển hóa thuốc cytochrome P450, bao gồm CYP1A1 và CYP1A2, mà có thể gây tương tác thuốc-thuốc trong cơ thể (Ueng YF, 1999). Đặc biệt, trong số 21 flavonoid có tác dụng hạ huyết áp, naringin có tác dụng mạnh thứ hai sau rutin. Theo kết quả nghiên cứu của Schindler và Mentlein (2006) khi kết hợp naringin với rutin thì tác dụng làm bền thành mạch được tăng lên đáng kể so với từng chất riêng lẻ, đồng thời cũng ức chế sự giải phóng VEGF gây co mạch. Một nghiên cứu của Piotr Tomasik (2004) đã kết luận khi xử lí naringin với base mạnh, sau đó thực hiện phản ứng khử nước thì thu được naringin dihydrochalcone, hợp chất này có độ ngọt gấp 300-1800 lần đường mía. Cũng trong thời gian đó, nhóm tác giả Un Ju Jung đã công bố về khả năng hạ thấp lượng đường trong máu của naringin, đặc biệt khi kết hợp với hesperidin. Bên cạnh các nghiên cứu về hoạt tính sinh học, những công trình về sự tách chiết và tinh sạch naringin cũng đã được thực hiện (Willard E. Baier, 1947; R. Hendrickson và J. W. Kesterson, 1956; Paul L. Davis, 1966) nhưng đều đã tương đối cũ và khó áp dụng vào sản xuất.

Ở Việt Nam, các nghiên cứu về naringin được thực hiện bởi một số nhóm tác giả như Nguyễn Công Hà và cộng sự (Đại học Cần Thơ, 2009) đã khảo sát sự biến đổi naringin trong quá trình lên men rượu bưởi hay nhóm tác giả Nguyễn Minh Đức (Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2007) nghiên cứu chiết xuất naringin làm chất chuẩn phục vụ công tác kiểm nghiệm thuốc. Bên cạnh đó, nhóm tác giả Trần Hùng (Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh, 2001) cũng khảo sát tính chất của các flavonoid chiết xuất từ vỏ bưởi, trong đó có naringin. Tuy nhiên, các nghiên cứu trên chỉ mới dừng lại ở việc cô lập một lượng nhỏ naringin cho mục đích học thuật.

Naringin đã được sản xuất và thương mại hóa trên thế giới dưới dạng tinh chất, dạng dùng trong thực phẩm cũng như dùng trong dược phẩm. Một số sản phẩm có chứa naringin được bán ngoài thị trường có thể kể đến như: Swanson Superior Herbs, Pure Encapsulations-Acelora/Flavonoid, Charge…Trong khi đó, ở Việt Nam chưa có tác giả nào công bố về quy trình chiết tách, tinh sạch naringin với lượng lớn và hiệu suất cao, cũng chưa có công ty nào tự sản xuất naringin để bán trên thị trường mà phải nhập từ nước ngoài, đặc biệt là chất chuẩn Naringin phục vụ trong công việc kiểm nghiệm thuốc và dược phẩm thì phải nhập hoàn toàn từ nước ngoài và có giá thành cao. Trong khi vỏ bưởi – nguồn nguyên liệu để sản xuất naringin – lại rất phổ biến (gần như là phế phẩm) ở nước ta. Xuất phát từ tình hình trên, nghiên cứu “Xây dựng quy trình chiết xuất chuẩn naringin từ vỏ quả bưởi Citrus maxima (Merr., Burm. f.)” là thực sự cần thiết, một mặt có thể sử dụng phế phẩm vỏ bưởi, tránh lãng phí, một mặt có thể thu được nguồn naringin giá rẻ trong nước, giảm bớt sự phụ thuộc vào nguồn cung từ nước ngoài, đặc biệt là có thể sản xuất narigin có hàm lượng và chất lượng cao phục vụ để làm chất chuẩn và chất đối chiếu trong kiểm nghiệm dược phẩm.

2.QUY TRÌNH CHIẾT XUẤT VÀ PHÂN LẬP HỢP CHẤT NARINGIN

Vỏ bưởi thu mua về, gọt bỏ lấy phần trắng. Sấy khô mẫu ở 60 – 70°C, xay thành dạng bột. Cân 100g  vỏ bưởi đã xay, thực hiện quá trình chiết với dung môi EtOH – nước (8:2) ở nhiệt độ 70°C trong 1h. Lọc thu dịch chiết loại bỏ bã nguyên liệu. Cô quay loại bớt dung môi. Dùng Ca(OH)2 để chỉnh pH về khoảng 9 – 10 để loại pectin và đường trong dịch chiết. Lọc thu lại dịch chiết. Sau đó, chỉnh dung dịch về pH khoảng 5 bằng HCl. Để yên cho naringin kết tinh. Lọc thu tinh thể. Thực hiện quá trình kết tinh lại với hệ dung môi nước – EtOH vài lần. Sau mỗi lần, tiến hành lọc thu tinh thể và rửa tinh thể với nước lạnh. Sấy khô thu tinh thể naringin.

Narigin thu được sẽ được xác định tạp chất bằng phương pháp HPLC và xác định cấu trúc phân tử bằng các phổ IR, NMR, MS…

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Tất Lợi. Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam. l. : Nhà xuất bản y học, 2004.
  2. Kesterson, J. K., Hendrickson, R.. Narringin, A Bitter Principle of Grapefruit. 1957, Florida Agricutural Experiment Stations.
  3. Lý Ngọc Trâm, et al. Nghiên Cứu Công Nghệ Chiết Tách Flavanoid Từ Vỏ Quả Citrus. 3A, 2012, Tạp Chí Khoa Học Và Công Nghệ, Vol. 50, pp. 151 – 156.
  4. Nguyễn Minh Đức. Nghiên Cứu Chiết Xuất, Tinh Chế Các Hợp Chất Từ Dược Liệu Để Sử Dụng Làm Chất Chuẩn Phục Vụ Công Tác Kiểm Nghiệm Dược Và Nghiên Cứu Dược Liệu. l. : Đại Học Y Dược TP Hồ Chí Minh, 2007. pp. 143 – 152.
  5. Trần Hùng, et al. Phương Pháp Nghiên Cứu Dược Liệu. l. : Đại Học Y Dược TP. Hồ Chí Minh, 2012, pp. 140 – 141.
  6. Poore, H. D. Recovery of Naringin and Pectin from Grapefruit Residue. 26, s.l. : Industrial And Engineering Chemistry, 1934, Vol. 26, pp. 637 – 639.
  7. Ikan, Raphael. Natural Products: A Laboratory Guide. l. : Academic Press, 1996. pp. 14 – 16.
  8. Tripodo, M. M. et al. Utilization of a Ctrus Industry Waste. 2007, Forum Ware International, Vol. 2, pp. 20 – 27.

Bài viết liên quan

Liên hệ

176 Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, T.p Hà Nội
Điện thoại
(024)-3553-5355
Email
irdop.quantri@gmail.com

Dịch vụ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ, KIỂM NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học
TƯ VẤN, ĐÀO TẠO
Nghiên cứu khoa học

Tài Liệu

Bài báo quốc tế

Bài báo quốc tế

Báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học

Nghiên cứu khoa học

Bài báo quốc tế

Liên kết website