(024) 3553 5355
Điện thoại
irdop.quantri@gmail.com
Email to irdop.quantri@gmail.com

Đăng nhập - Tài khoản

Nghiên cứu đánh giá khả năng hỗ trợ điều trị ung thư từ các bài thuốc Nam của lương y Nguyễn Văn Phòng bằng mô hình in vitro và in vivo

Đơn vị nghiên cứu: Phòng Dược lý, lâm sàng, Viện IRDOP

Abstract

Cancer is the major cause of mortality in the world. Methods commonly used for the treatment of cancer are chemotherapy, radiation therapy, and surgery. However, due to undesirable side effects, more attempts have been made to develop natural medicine for cancer treatment. Vietnam is a country with rich natural resources for development of fork medicine. However, investigation of anticancer properties of natural medicine used in daily treatment is still limited and required much more efforts. The present research aims to investigate anticancer properties of several fork medicines donated by the herb doctor Nguyen Van Phong by in vitro and in vivo models.

  1. Tổng quan

Ung thư là căn bệnh có tỷ lệ tử vong cao và đang phát triển nhanh ở Việt Nam và trên thế giới. Bệnh gây nhiều hệ lụy về sức khỏe và có thể gây ra cái chết cho bệnh nhân nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời. Hiên nay, các loại ung thư phổ biến ở Việt Nam bao gồm ung thư phổi, ung thư gan và ung thư dạ dày. Ngoài ra, ung thư vú và ung thư tử cung ngày càng trở nên phổ biến với phụ nữ ở Việt Nam.[1]  Hiện nay, chưa có phương pháp điều trị nào có thể chữa trị triệt để bệnh ung thư. Các liệu pháp điều trị ung thư hiện nay tập trung vào sử dụng phẫu thuật, xạ trị, hóa trị…Tuy nhiên các phương pháp trên để lại nhiều di chứng và tác dụng phụ ảnh hưởng đến sức khỏe người bệnh. Do đó, việc nghiên cứu và phát triển các loại thuốc có nguồn gốc thiên nhiên để hỗ trợ điều trị ung thư là rất cần thiết. Nhiều loại thuốc hỗ trợ điều trị ung thư từ dược liệu tự nhiên đã được cấp phép sử dụng như paclitaxel, vincristine.[2]

Việt Nam là nước có hệ động thực vật vô cùng phong phú với khoảng 5000 loài cây dược liệu được ghi nhận và sử dụng làm thuốc. Sự phát triển của các bài thuốc Đông y và bài thuốc Nam trong những năm qua đã giúp cho người mắc bệnh nói chung và ung thư nói riêng có nhiều lựa chọn về các liệu pháp an toàn với chi phí thấp. Tuy nhiên các nghiên cứu dược lý và lâm sàng về khả năng hỗ trợ điều trị ung thư của các bài thuốc Nam, Đông y hiện nay còn rất hạn chế. Điều này dẫn đến hiệu quả sử dụng các bài thuốc trong hỗ trợ điều trị ung thư chưa cao. Do đó, để đánh giá tác dụng và nâng cao hiệu quả sử dụng của các loài dược liệu Việt Nam, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đánh giá khả năng hỗ trợ điều trị ung thư của các bài thuốc Nam do lương y Nguyễn Văn Phòng cung cấp trên mô hình in vitroin vivo.

  1. Phương pháp nghiên cứu

2.1. Chiết xuất dược liệu

Quy trình chiết các bài thuốc Nam (PH1, PH2, PH3) được thực hiện theo hướng dẫn phương pháp tại Viện nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thiên nhiên.

2.2.  Đánh giá khả năng gây độc tính với các dòng tế bào ung thư bằng bằng phương pháp Sulforhodramine B (SRB)[3],[4]

Các bài thuốc sau khi chiết và làm khô được pha với nồng độ 0.8, 4, 20, và 100µg/mL. Các dòng tế bào ung thư sử dụng trong thử nghiệm gồm dòng tế bào ung thư gan (HepG2), ung thư phổi (SK-LU-1) và ung thư tử cung (Hela). Trước khi tiến hành cấy chuyển tế bào, tiến hành bỏ phần môi trường đang dùng để nuôi tế bào trong đĩa pectri, dùng dung dịch PBS vô trùng để rửa lại tế bào. Sau đó, hút bỏ dung dịch PBS trong đĩa tế bào, dùng dung dịch trypsine 0.25% (wt/vol) trong EDTA để bóc lớp tế bào ra khỏi bề mặt đĩa. Kiểm tra nếu tế bào đã bong ra khỏi bề mặt đĩa thì bổ sung 10 lần thể tích môi trường FBS, trộn đều để tế bào phân tán vào môi trường. Tiếp theo, tiến hành chuyển toàn bộ hỗn hợp huyền phù tế bào và môi trường vào ống falcon loại 15 mL. Đếm nồng độ tế bào trong dung dịch bằng đĩa đếm và kính hiển vi và điều chỉnh mật độ tế bào trong hỗn hợp bằng môi trường nuôi cấy tế bào FBS để đạt nồng độ tế bào 2×104/1 giếng (50µL). Sau khi nồng độ tế bào đạt yêu cầu, lấy 50µL dung dịch chất chiết ở nồng độ khác nhau (bao gồm cả dung dịch đối chứng dương, âm) cho vào các giếng. Sau đó, lấy 50µL dung dịch hỗn hợp tế bào cho vào trong các giếng (đã bơm mẫu trước đó). Để hỗn hợp chất chiết và tế bào trong tủ ở điều kiện 37oC, CO2 5% trong vòng 72h. Sau thời gian xử lý, lấy 100 µL acid trichloroacetic 10% (wt/vol) lạnh cho vào các giếng sau đó cho vào tủ lạnh ở 4oC trong 1h. Dùng nước sạch rửa các giếng khoảng 5 lần để loại bỏ toàn bộ dung dịch trong giếng, làm khô bề mặt giếng bằng giấy thấm. Sau đó để cho các giếng tự khô ở nhiệt độ phòng (trong khoảng 2h). Chú ý, không bơm trực tiếp nước rửa vào trong đáy giếng, nơi các tế bào bám vào. Bơm 50 µL dung dịch SRB 0.04% (wt/vol) vào mỗi giếng. Để ở nhiệt độ phòng trong 1 h sau đó rửa các giếng bằng acid acetic 1% (vol/vol) (5 lần) để loại bỏ chất nhuộm màu không liên kết với tế bào. Sau đó để khô ở nhiệt độ phòng rồi tiến hành bơm 100 µL dung dịch bazo Tris 10 mM (pH 10.5) vào từng giếng và lắc nhẹ trong khoảng 10 phút để hòa tan các chất màu gắn với protein. Tiến hành đo độ hấp thụ ở bước sóng 510 nm trong máy ELISA (microplate reader). Kết quả được tính như sau:

% tế bào sống = Độ hấp thụ của mẫu/độ hấp thụ của đối chứng âm x 100%

% ty lệ ức chế/tiêu diệt tế bào = 100 – % tế bào sống

2.2. Đánh giá khả năng kháng ung thư của dược liệu trên mô hình chuột Swiss bị gây ung thư bằng dòng tế bào ung thư phổi (3LL)[2][5][6]

Chuột Swiss khỏe mạnh (trọng lượng từ 20-25g) được nuôi trong lồng nhựa tại viện IRDOP với chu kỳ 12h sáng/tối ở 23-25oC. Sau khi nuôi ổn định trong 7 ngày, chuột sẽ được gây u dưới da tại bụng bằng cách tiêm khoảng 2×106 tế bào ung thư 3LL cho mỗi con. Sau 5 ngày, khối u lên với kích thưởng khoảng 5 cm, tiến hành chia chuột thành các lô. Trong đó có Lô 1 là lô đối chứng âm, lô 2 là lô đối chứng dương (capecitabine 350 mg/kg thể trọng), các lô còn lại được xử lý bằng dịch chiết các bài thuốc PH1, PH2, PH3 với hàm lượng 600 mg/kg thể trọng, có những lô được dùng để thăm dò liều. Sau khi cho chuột uống thuốc, cứ 2 ngày theo dõi tỷ lệ chết của chuột trên các lô. Cứ sau 7 ngày đo kích thước và tính thể tích của khối u trên các lô chuột. Thể tích khối u theo công thức V = a2 x b/2. Trong đó: a là chiều rộng khối u và b là chiều dài khối u. Phần trăm giảm kích thước khối u được tính theo công thức: % giảm kích thước khối u = 100% – 100xMT/MC. Trong đó, MT là trung bình thể tích khối u trên mẫu thử nghiệm và MC là thể tích trung bình của khối u trên mẫu đối chứng. Sau 28 ngày, tiến hành mổ khối u, xác định khối lượng khối u ở các lô và chỉ số sinh hóa máu để đánh giá tác dụng và cơ chế ức chế sự phát triển của khối u.

  1. Kết quả và thảo luận

Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày trong các số sau.

Tài liệu tham khảo

[1]      Nhóm đối tác y Tế, Bộ Y tế Việt Nam. Báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2016.

[2]      D. T. Thao, N. T. Nga, N. A. Van, K. D. Hung. Potential Anticancer Activities of a Combination of Curcumin , Ginger Oleoresin , and Rutin Solid Lipid Nanoparticles ( Vietlife-Antican ) in LLC Tumor-Bearing Mice. 2019, 7

[3]      V. Vichai, K. Kirtikara. Sulforhodamine B colorimetric assay for cytotoxicity screening. 2006, 1, 1112.

[4]      E. A. Orellana, A. L. Kasinski. Sulforhodamine B (SRB) Assay in Cell Culture to Investigate Cell Proliferation. Bio Protoc. 2017, 6, 1.

[5]      A. Faustino-rocha, P. A. Oliveira, J. Pinho-oliveira. Estimation of rat mammary tumor volume using caliper and ultrasonography measurements. Nat. Publ. Gr. 2013, 42, 217.

[6]      N. Blatt, S. F. Khaiboullina, V. C. Lombardi, A. Rizvanov. In vivo screening models of anticancer drugs. Life Sci. J. 2013, 10, 1892.

Bài viết liên quan

Liên hệ

176 Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, T.p Hà Nội
Điện thoại
(024)-3553-5355
Email
irdop.quantri@gmail.com

Dịch vụ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ, KIỂM NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học
TƯ VẤN, ĐÀO TẠO
Nghiên cứu khoa học

Tài Liệu

Bài báo quốc tế

Bài báo quốc tế

Báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học

Nghiên cứu khoa học

Bài báo quốc tế

Liên kết website