(024) 3553 5355
Điện thoại
irdop.quantri@gmail.com
Email to irdop.quantri@gmail.com

Đăng nhập - Tài khoản

Nghiên cứu đánh giá tác dụng bảo vệ gan của các mẫu dược liệu trên mô hình gây tổn thương gan bằng paracetamol

Summary
Liver injury is a common hepatic disease caused by consumption of toxic chemicals from food, drugs and environment. There are a lot of drugs have been developed to protect the liver. In the present research at the Institute for Research and Development of Organic Products (IRDOP), the hepatoprotective effects of sixteen medicinal materials (DL1-DL16) has been investigated using paracetamol-induced liver injury in mice model. Aspartate transaminase (AST) and alanine transaminase (ALT) from the plasma and malonyldialdehyde (MDA) from the liver have been analysed. The microscopic anatomy of liver cells was also performed to evaluate the injury of the liver. The results showed that among sixteen tested medicinal materials, the DL2, DL4, DL9, DL11 and DL13 showed significant (P<0.05) reduction of AST and ALT at 200 and 600 mg/kg body weight. The DL1, DL3, DL10 and DL12 exhibited the hepatoprotective effect at dose of 600 mg/kg body weight. The MDA of the DL1, DL2, DL3, DL4, DL8, DL9, DL11, DL12, DL13 and DL16 are significant lower than that of the control sample. The microscopic anatomy of the liver cell showed the hepatoprotective results which are in agreement with those from AST, ALT and MDA analyses. It suggested that the present paracetamol-induced liver injury in mice model at IRDOP could successfully investigate the hepatoprotective effects of food, drugs and medicinal materials.
1. Tổng quan
Gan là cơ quan đóng vai trò quan trọng trong quá trình giải độc của cơ thể, tiếp nhận các nguồn chất được hấp thu từ hệ thống tiêu hóa, thanh lọc và đào thải các chất có hại qua hệ tiết niệu và tiêu hóa. Có nhiều tác nhân gây bệnh như virus, vi khuẩn, chất độc hại từ thức ăn, nước uống, thuốc, và môi trường xung quanh. Khi hấp thu vào cơ thể, các chất này làm suy giảm nghiêm trọng chức năng gan, gia tăng tỷ lệ mắc bệnh về gan như viêm gan, xơ gan, ung thư gan. Chính vì vậy, gan cần bảo vệ, giảm tải, điều hòa. Ngoài chế độ ăn uống điều độ, tăng cường hoạt động cơ thể, chúng ta có thể dùng các thảo dược hỗ làm mát gan, giải độc, tăng cường chức năng gan [1].
Có rất nhiều tác nhân gây tổn thương gan như carbontetraclorid, ethanol, aflatoxin B. Tuy nhiên, paracetamol là tác nhân gây tổn thương gan thường thấy trong thực tế. Paracetamol khi đến gan làm suy yếu glutathion, kích thích cytochrom sản xuất N-acetyl-p-benzoquinone imine (NAPQI), dẫn đến tình trạng thiếu glutathion liên kết với NAPQI và dư thừa NAPQI. NAPQI dư thừa sẽ gắn với màng tế bào gan, gây peroxy hóa lipid sinh MDA, làm hoại tử gan [2].Việc sử dụng quá liều paracetamol sẽ dẫn tới hoại tử gan được quan sát trong 24h và chạm tới mức cao nhất sau 3-4 ngày [3]. Ngộ độc paracetamol sẽ gây ra những biến đổi về sinh lý quan sát được trên mô và tế bào gan cũng như biến đổi sinh hóa thể hiện ở sự tăng nồng độ malonyldialdehyde (MDA) ở gan và nồng độ aspartat transaminase (AST) và alanin transaminase (ALT) huyết thanh. Trong đó, MDA là sản phẩm của quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào và MDA tăng tỉ lệ với mức độ tổn thương của gan, hai enzyme nội bào AST và ALT có chức năng xúc tác và chuyển hóa nhóm –NH2 của các amino acid, chủ yếu được tìm thấy ở gan và sẽ giải phóng vào trong máu khi gan tổn thương [4].
Hiện nay đã có nhiều sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng được giới thiệu với tác dụng giải độc bảo vệ gan như Boganic, Detoxgan, Eganin, Silymarin. Các sản phẩm trên chủ yếu được chiết xuất từ các thao dược thiên nhiên như Cà Gai Leo, Actiso, Diệp Hạ Châu, Bồ Công Anh, Giảo Cổ Lam, Nhân Trần. Tuy nhiên để đánh giá tác dụng giải độc, bảo vệ gan của các thảo dược thiên nhiên, chúng ta cần xây dựng mô hình dược lý để đánh giá. Viện nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thiên nhiên (IRDOP) đã xây dựng thành công mô hình đánh giá khả năng giải độc bảo vệ gan của các thảo dược thiên nhiên dựa trên mô hình chuột nhắt trắng bị gây tổn thương gan bằng paracetamol.
2. Vật liệu và Phương pháp nghiên cứu
2.1. Vật liệu nghiên cứu
Các mẫu dược liệu được mã hóa từ DL1 đến DL16 và được chiết xuất thành cao lỏng với tỷ lệ 1:3 theo quy trình chiết được áp dụng tại phòng chiết xuất của viện IRDOP. Chuột nhắt trắng swiss 4-5 tuần tuổi với trọng lượng 20-25 g/con được cung cấp thức ăn và nước uống đầy đủ và được nuôi với chu kỳ 12 giờ sáng tối ở 23-25oC.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Mô hình xử lý dược liệu trên chuột nhắt trắng bị gây tổn thương bằng paracetamol
Trước khi cho uống thuốc và gây độc bằng paracetamol, chuột được nuôi để thích nghi với môi trường sống trong 7 ngày. 280 con chuột sẽ được phân chia ngẫu nhiên vào 35 lô, mỗi lô 8 con. Các lô được bố trí như sau: lô 1 là lô đối chứng sinh lý (không sử dụng mẫu thuốc thử và không gây độc bằng paracetamol); lô 2 là lô đối chứng bệnh lý (không sử dụng mẫu thuốc thử, có gây độc bằng paracetamol); lô 3 là lô đối chứng dương (sử dụng silymarin với liệu lượng 70 mg/kg thể trọng, gây độc bằng paracetamol); các lô từ lô 4 đến lô 35 (sử dụng dịch chiết dược liệu với nồng độ 200 mg/kg thể trọng và 600 mg/kg thể trọng). Paracetamol nồng độ 350 mg/kg thể trọng được sử dụng ở ngày thứ 8 sau khi uống thuốc dược liệu. Sau khi gây độc 24 h, tiến hành lấy máu chuột để kiểm tra chỉ số sinh hóa AST và ALT. Các mẫu gan cũng được sử dụng để phân tích chỉ số MDA và phân tích giải phẫu mô tế bào gan.
Phương pháp sử lý số liệu
Số liệu nghiên cứu được phân tích bằng phần mềm R studio. Các biến liên tục được mô tả bằng giá trị trung bình ± độ lệch chuẩn (X ± SD) và được so sánh bằng kiểm định thống kê t-test cho các cặp mẫu độc lập. Sự sai khác được đánh giá ở mức ý nghĩa 5%.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả đánh giá tác dụng của các mẫu chất chiết dược liệu đến nồng độ AST và ALT trong huyết thanh
AST và ALT và 2 enzym chủ yếu được tìm thấy ở tế bào gan. Khi gan tổn thương, nồng độ AST, ALT huyết thanh sẽ tăng cao do được giải phóng vào máu. Kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của cao nước dược liệu lên nồng độ AST, ALT huyết thanh được thể hiện ở Hình 1 và Hình 2. Từ kết quả hình 1 và 2 cho thấy trong 16 mẫu dược liệu được khảo sát có 5 mẫu gồm DL2, DL4, DL9, DL11 và DL13 có chỉ số AST và ALT thấp hơn (P<0.05) so với chứng bệnh lý ở cả hai liều nghiên cứu. Đối với các mẫu dược liệu DL1, DL3, DL10 và DL12, giá trị AST và ALT giảm có ý nghĩa thống kê so với mẫu chứng bệnh lý ở P<0.05 khi chuột được uống với liều 600 mg/kg thể trọng.

Hình 1. Các mẫu dược liệu có tác dụng giảm trị số AST trong huyết thanh so với chứng bệnh lý ở P<0.05

Hình 2. Các mẫu dược liệu có tác dụng giảm trị số ALT trong huyết thanh so với chứng bệnh lý ở P<0.05
3.2. Kết quả đánh giá tác dụng của các mẫu chất chiết dược liệu đến nồng độ MDA trong gan.
MDA là sản phẩm của quá trình peroxy hóa lipid màng tế bào và MDA tăng tỉ lệ với mức độ tổn thương của gan. Để đánh giá khả năng bảo vệ gan của các mẫu dược liệu, chúng tôi tiến hành phân tích chỉ số MDA trên các mẫu gan. Kết quả được thể hiện ở Hình 3. Kết quả phân tích hàm lượng MDA trên các mẫu gan cho thấy giá trị MDA trên mẫu chứng bệnh lý cao hơn (P<0.05) so với mẫu chứng sinh lý và mẫu chứng dương. Điều đó chứng tỏ việc gây tổn thương gan bằng paracetamol đã gây ra quá trình peroxy hóa màng tế bào gan và sinh ra MDA. Trong số các mẫu dược liệu nghiên cứu, các mẫu DL1, DL2, DL3, DL4, DL8, DL9, DL11, DL12, DL13 và DL16 cho chỉ số MDA thấp hơn có ý nghĩa (P<0.05) so với mẫu chứng bệnh lý và khác có ý nghĩa (P<0.05) so với mẫu đối chứng dương dùng silymarin ở cả hai liều nghiên cứu. Các kết quả đánh giá chỉ số MDA trong gan tương đồng với các kết quả AST và ALT trong huyết thanh điều đó chứng tỏ các mẫu dược liệu nghiên cứu có tác dụng bảo vệ gan khỏi các tổn thương do paracetamol gây ra.

Hình 3 Tác dụng của các mẫu dược liệu đế sự thay đổi chỉ số MDA trên gan chuột thí nghiệm
3.3. Kết quả kiểm tra vi thể tế bào gan (xem phụ lục)
Kết quả kiểm tra vi thể tế bào gan cho thấy lô chuột bệnh lý có biểu hiện tổn thương gan rõ rệt bao gồm cả dạng tổn thương có hồi phục – thoái hóa nước (thoái hốc), sung huyết xoang mạch nan và tổn thương không hồi phục – hoại tử nhu mô gan. Chuột ở lô chứng dương sử dụng silymarin liều 70 mg/kg có dấu hiệu sung huyết nhẹ ở tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy gan và tĩnh mạch cửa. Như vậy, tuy có dấu hiệu tổn thương tế bào gan nhưng lô chứng dương, thuốc đã có tác dụng làm giảm rõ rệt mức độ tổn thương gan so với chứng bệnh lý, không có dấu hiệu viêm, hoại tử tế bào.
Chuột các lô uống dược liệu mẫu DL 1, DL5, DL6, DL13 (liều 200 mg/kg), 14 (liều 200 mg/kg) có biểu hiện tổn thương tế bào, bao gồm thoái hốc, thoái hạt, sung huyết tĩnh mạch cử và tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy. Lô chuột uống mẫu dược liệu DL 7 có biểu hiện viêm, các lô chuột uống mẫu DL 14, DL 15 còn có dấu hiệu hoại tử, bên cạnh các dấu hiệu tổn thương hồi phục. Riêng các mẫu ngẫu nhiên được chọn từ chuột uống mẫu DL 2, DL 3, DL 4, DL 9, DL 12, DL 16 nhu mô gan bình thuờng. Các lô uống các mẫu dược liệu khác rải rác còn có thoái hóa nước, sung huyết tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và tĩnh mạch cửa. Kết quả giải phẫu bệnh (với mẫu ngẫu nhiên trong mỗi lô) một lần nữa củng cố kết quả thu được từ sinh hóa cũng như kết quả quan sát đại thể gan chuột.
4. Kết luận
Kết hợp kết quả mô bệnh học với định lượng AST, ALT và quan sát đại thể có thể thấy chuột ở các lô uống mẫu DL 2, DL 4, DL9 (2 mức liều) và DL 3, DL 10, DL 11, DL 12 và DL 16 liều 600 mg/kg sau khi gây độc gan bằng paracetamol, men gan không tăng cao và không có dấu hiệu tổn thương gan rõ rệt. Chuột ở các lô uống mẫu DL 7, DL 14 và DL 15 sau khi gây độc chức năng gan không được bảo vệ rõ rệt, tổn thương gan không giảm so với chứng bệnh lý. Các kết quả trên cho thấy nghiên cứu đánh giá khả năng bảo vệ gan của thuốc và dược liệu trên mô hình chuột bị gây tổn thương gan do viện nghiên cứu và phát triển các sản phẩm thiên nhiên (IRDOP) tiến hành là hoàn toàn khả thi để đánh giá tác dụng bảo vệ gan của các loại thuốc, thực phẩm, dược liệu.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phí Thị Cẩm Miện, Trần Văn Thái, “Đánh giá tác dụng bảo vệ gan của dịch chiết chùm ngây (moringa oleifera) trên chuột gây tổn thương gan bằng carbon tetrachloride (CCl4),” Vietnam J. Agri. Sci., vol. Vol. 15, no. No. 2, pp. 225–233, 2017.
[2] Michael J. Hodgman, Alexander R. Garrard, “A Review of Acetaminophen Poisoning,” BioMed Research International Journal.
[3] R. Teschke and Y. Zhu, “Paracetamol (Acetaminophen), Alcohol and Liver Injury: Biomarkers, Clinical Issues, and Experimental Aspects,” p. 20.
[4] “Hepatotoxicity and ALT/AST Enzymes Activities Change in Therapeutic and Toxic Doses Consumption of Acetaminophen in Rats-International Biological and Biomedical Journal.” [Online]. Available: http://ibbj.org/browse.php?a_id=129&sid= 1&slc_lang=en. [Accessed: 26-Jun-2019]

Phụ lục
Một số hình ảnh vi thể tế bào gan

Chứng sinh lý: Các tế bào gan không bị thoái hóa (mũi tên màu vàng). Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và tĩnh mạch cửa không bị sung huyết (Mũi tên màu xanh).

Chứng bệnh lý: Toàn bộ tế bào gan bị thoái hóa nước. Các tế bào gan quanh tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy bị hoại tử đông (mũi tên màu vàng). Các xoang mạch bị sung huyết, xuất huyết (Mũi tên màu xanh).

Chứng dương: Các tế bào gan không bị thoái (mũi tên màu vàng). Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và tĩnh mạch cửa bị sung huyết nhẹ (Mũi tên màu xanh).

Mẫu BL 1 (600 mg/kg): Gan có các ổ tế bào gan bị thoái hóa hạt và thoái hóa nước (mũi tên màu vàng). Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và tĩnh mạch cửa bị sung huyết nhẹ (Mũi tên màu xanh)

Mẫu BL2 (200 mg/kg): Gan có các tế bào gan không bị thoái hóa (mũi tên màu vàng). Các tĩnh mạch trung tâm tiểu thùy và tĩnh mạch cửa bị sung huyết nhẹ (Mũi tên màu xanh).

TS. Nguyễn Hữu Nghị và cộng sự

Bài viết liên quan

Liên hệ

176 Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, T.p Hà Nội
Điện thoại
(024)-3553-5355
Email
irdop.quantri@gmail.com

Dịch vụ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ, KIỂM NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học
TƯ VẤN, ĐÀO TẠO
Nghiên cứu khoa học

Tài Liệu

Bài báo quốc tế

Bài báo quốc tế

Báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học

Nghiên cứu khoa học

Bài báo quốc tế

Liên kết website