(024) 3553 5355
Điện thoại
irdop.quantri@gmail.com
Email to irdop.quantri@gmail.com

Đăng nhập - Tài khoản

Nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của cây tam thất hoang, bảy lá một hoa và hà thủ ô đỏ thu hái tại miền trung việt nam

Sumery: In this study, we investigated the antioxidant activities of tam that hoang, bay la mot hoa, and ha thu o do, which haved been collected in central of Vietnam by using 2,2-Diphenyl-1-picrylhydrazyl (DPPH). DPPH free radical scavenging method offers the first approach for evaluating the antioxidant potential of a compound, an extract or other biological sources.

Key word: Tam that hoang Panax stipuleanatus H.T Tsai et K. M. Feng , bay la mot hoa (Paris chinensis Franch), ha thu o do ( Fallopia multiflora (Thunb), DPPH assay, antioxidant.

I. TỔNG QUAN:

Các gốc tự do (chất oxy hóa) luôn được sinh ra trong cơ thể người và cả từ các tác nhân ngoại sinh, và đã được chứng minh là có liên quan đến nhiều rối loạn bệnh lý và thoái hóa trong cơ thể người, như rối loạn tần kinh, rối loạn tim mạch, đột biến, tăng nguy cơ các bệnh ung thư và đặc biệt là hiện tượng lão hóa. Do đó việc tìm ra các chất có hoạt tính chống oxy hóa, có khả năng ức chế các gốc tự do, đặc biệt là các chất có nguồn từ thiên nhiên rất được quan tâm hiện nay.

Việt Nam là một nước nhiệt đới gió mùa có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng, trong đó phải kể nguồn cây dược liệu dồi dào, đã được sử dụng từ lâu là nguồn nguyên liệu vô cùng quý giá. Chúng tôi tiến hành xác định hoạt tính chống oxy hóa từ 3 nguồn nguyên liệu đã được phát hiện trên địa bàn tỉnh Nghệ An là cây Tam thất hoang, Bẩy lá một hoa và Hà thủ ô đỏ.

1.1 Tam thất hoang (Panax stipuleanatusT. Tsai et K.M. Feng)

Tam thất hoang có tên khoa học là Panax stipuleanatus H.T. Tsai et K.M. Feng, còn có tên khác là  là cây sâm rừng, phan xiết (tiếng H’Mông), bình biên tam thất(Trung Quốc), thuộc họ Ngũ gia bì (Nhân sâm) Araliaceae, là cây thân thảo, sống nhiều năm, tất cả các bộ phận của cây đều có thể dùng làm thuốc. Loài này đã được đưa vào sách Đỏ Việt Nam.

1.2 Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch)

Bảy lá một hoa có tên khoa học Paris chinensis Franch hay còn được gọi là độc cước liên, tác bươu, cúa dô (H’Mông), co tẩu phờm (Thái) thuộc họ hành tỏi Liliaceae, là cây thân thảo nhiều năm, thường được sử dụng để chữa rắn cắn, chữa viêm, sưng tấy.

1.3 Hà thủ ô đỏ (Fallopia multiflora (Thunb) :

Hà thủ ô đỏ có tên khoa học là Fallopia multiflora (Thunb) hay còn được gọi là Dạ giao đằng, dạ hợp, Má ỏn, Mằn năng ón (Tày), Khua lình (Thái), Xạ ú sí (Dao), là một loài hà thủ ô cây thân mềm, thuộc họ Rau răm (Polygonaceae). Hà thủ ô đỏ chủ yếu được biết đến như là một vị thuốc bổ, trị suy nhược thần kinh, ích huyết, khỏe gân cốt, đen râu tóc. Loài này đã được đưa vào sách Đỏ Việt Nam.

II. THỬ HOẠT TÍNH CHỐNG OXY HÓA CỦA CAO CHIẾT THỰC VẬT BẰNG PHƯƠNG PHÁP THỬ NGHIỆM 2,2-DIPHENYL-1-PICRYLHYDRAZYL (DPPH)

1. Nguyên tắc của phương pháp:

Phương pháp thử nghiệm bằng DPPH là phương pháp phổ biến trong các nghiên cứu hoạt tính chống oxy hóa của các sản phẩm tự nhiên. Đây là phương pháp đơn giản và độ nhạy cao. Thử nghiệm này dựa trên nguyên tắc chất chống oxi hóa sẽ cung cấp một gốc hydro để trung hòa gốc DPPH+.

Tác động chống oxy hóa tỉ lệ thuận với sự mất đi của các gốc tự do DPPH+ trong các mẫu thử. Khi phản ứng xảy ra dung dịch sẽ chuyển dần từ màu tím sang màu vàng. DPPH+ hấp thụ bước sóng cực đại là 517nm. Do đó, hiệu quả chống oxy hóa có thể dễ dàng được đánh giá bằng cách giảm sự hấp thụ UV ở 517 nm.

2. Các bước tiến hành:

Xử lý mẫu:

Mẫu thực vật được tiến hành tách chiết với ethanol thành dạng cao khô theo phương pháp có sẵn tại viện. Bột nguyên liệu ngâm với Etanol 50% trong 1 ngày tỷ lệ dược liệu: dung môi là 1:8. Lọc lấy dịch chiết. Phần bã dược liệu ngâm chiết với Etanol 50% tỷ lệ dược liệu: dung môi 1:6. Lọc lấy dịch chiết. Gộp 2 lần dịch chiết cô quay ở 40°C.

Dịch chiết đem chiết  với Ether dầu hỏa 60-90oC 2 lần, mỗi lần 50 ml. Lấy phần không tan trong ether dầu hỏa đem cô quay đến cao đặc. Xác định khối lượng cao thu được.

Quy trình kiểm tra hoạt tính chống oxy hóa bằng phương pháp DPPH:

Pha dung dịch DPPH có nồng độ 0,1 mM trong Methanol (MeOH), tránh sáng.

Đối chứng dương được sử dụng là    α-tocopherol (vitamin E)

Cao chiết được pha bằng methanol với nồng độ 2mg/ml

Dung dịch cao chiết pha methanol được chia vào các ống thí nghiệm và được pha loãng bằng đệm để sao cho nồng độ cuối cùng đạt được một dãy các nồng độ 250 µg/ml,  200 µg/ml, 150 µg/ml, 100 µg/ml, 50 µg/ml.

Bổ sung dung dịch DPPH vào các mẫu chuẩn bị.

Để các ống phản ứng 30 phút trong điều kiện tránh sáng ở nhiệt độ phòng.

Sau đó đo độ hấp thụ ánh sáng OD của các mẫu bằng máy đo quang học tại bước sóng 517nm

Các nghiệm được lập lại 3 lần.

Số liệu của các lần thí nghiệm được tính trung bình và xác định độ lệch chuẩn.

Xử lý số liệu:

Kết quả được tính bằng phần trăm bẫy các gốc tự do (SC%)(phần trăm trung hòa gốc tự do) được tính như sau:

Độ lệch chuẩn σ được tính theo công thức Ducan như sau:

Giá trị hoạt động SC (%) >50% mẫu được coi là có biểu hiện hoạt tính sẽ được chọn ra để tìm giá trị IC50.

Tìm giá trị ức chế EC50 : giá trị EC50 được đưa vào chương trình Table Curve, thông qua nồng độ chất thử và % hoạt động của chất thử tính ra nồng độ của chất thử nghiệm mà ở đó 50% các gốc tự do DPPH+ được trung hoà bởi chất thử theo công thức:

1/Y = a+b.lnX

Trong đó: Y là nồng độ chất thử,   X là giá trị SC (%)

III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU:

(Đăng tiếp trong kì sau)

Tài liệu tham khảo:

  1. Viện dược liệu (2006), Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học kỹ thuật.
  2. Đỗ Tất Lợi (2004), “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam”, Nhà xuất bản Y học.
  3. Blois, M.S. (1958). Antioxidant determinations by the use of a stable free radical,Nature, 181: 11991200.
  1. Philip Molyneux (2003), “The use of the stable free radical diphenylpicrylhydrazyl (DPPH) for estimating antioxidant activity” .
  2. Gunars Tirzitis, and Grzegorz Bartosz(2010), “Determination of antiradical and antioxidant activity: basic principles and new insights”, ABP biochimica polonica.
  3. Sagar B. Kedare & R. P. Singh (2014), “Genesis and development of DPPH method of antioxidant assay”, J Food Sci Technol.

Bài viết liên quan

Liên hệ

176 Phùng Khoang, phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, T.p Hà Nội
Điện thoại
(024)-3553-5355
Email
irdop.quantri@gmail.com

Dịch vụ

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Nghiên cứu khoa học
ĐÁNH GIÁ, KIỂM NGHIỆM
Nghiên cứu khoa học
TƯ VẤN, ĐÀO TẠO
Nghiên cứu khoa học

Tài Liệu

Bài báo quốc tế

Bài báo quốc tế

Báo cáo khoa học

Báo cáo khoa học

Nghiên cứu khoa học

Bài báo quốc tế

Liên kết website